Nghiên cứu xác nhận ảnh hưởng của stachyose và raffinose trong đậu nành đối với năng suất của gà thịt

Đại học Arkansas đã thực hiện một nghiên cứu và hiện có thể xác nhận mức độ stachyose và raffinose của đậu nành trong khẩu phần ăn của gà thịt làm giảm năng suất của gia cầm.

Trong các bài báo trước được đăng trên tạp chí Thế giới Gia cầm, chúng tôi đã đề cập đến tầm quan trọng của galactosides đậu nành (stachyose và raffinose) trong thức ăn cho gà thịt. Việc bao gồm các mức độ tương đối cao của các oligosaccharide này có thể làm giảm năng suất sản xuất của gia cầm, ngoài ra còn dẫn đến bệnh viêm da chân trong trang trại.

Những tác dụng không mong muốn này của galactoside đậu nành liên quan đến giai đoạn khởi đầu của gà. Nhu cầu axit amin cao thường dẫn đến hàm lượng khô dầu đậu nành cao trong thức ăn ở giai đoạn đầu này. Ngoài ra, khả năng lên men của hệ vi sinh vật chưa trưởng thành chưa phát triển đầy đủ vì vậy phần galactoside không được lên men sẽ gây ra các rối loạn đường ruột và hậu quả là viêm da chân, thường không xác định được gốc rễ của các vấn đề này.

Khô dầu đậu nành là không tránh khỏi

Tuy nhiên, ngày nay việc sử dụng khô dầu đậu nành trong thức ăn là không thể tránh khỏi. Điểm mấu chốt của vấn đề là hàm lượng galactosides nên ở mức nào trong thức ăn giai đoạn ban đầu mà không ảnh hưởng đến năng suất và sức khỏe của gà con. Đây là mục tiêu của một nghiên cứu gần đây do tổ chức mở rộng Khoa học Gia cầm của Đại học Arkansas phối hợp với Hamlet Protein thực hiện.

Ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất

Mục tiêu của nghiên cứu này là để điều tra tác động của raffinose và stachyose galactosides (GOS) của đậu nành lên sức khỏe và năng suất của gà thịt non (0-21 ngày tuổi). Những gia cầm được cho ăn một khẩu phần ăn không có GOS dựa trên phân lập protein đậu nành hoặc bổ sung 0,9, 1,8, 2,7 hoặc 3,6% GOS. Các cấp độ GOS này được chọn để bao gồm phạm vi cấp độ mà chúng ta có thể gặp phải trong cuộc sống thực.

Hàm lượng stachyose và raffinose trong SBM có thể dao động từ 5% đến 10%. Do đó, một khẩu phần ăn khởi đầu, nguồn protein duy nhất là khô dầu đậu nành, bao gồm ở mức 35%, sẽ dẫn đến mức GOS trong thức ăn thành phẩm từ 1,75% đến 3,5%. Do đó, phạm vi GOS trong khẩu phần ăn thử nghiệm của thử nghiệm hiện tại (0-3,6%) nhiều hơn so với mức mà chúng ta có thể tìm thấy trong khẩu phần ăn khởi động thương mại.

Nghiệm thức

Stachyose và raffinose được duy trì ở tỷ lệ 4: 1, giống như những gì được tìm thấy trong khô dầu đậu nành. Mỗi một trong số 5 nghiệm thức này được thực hiện cho 10 lần lặp lại của 8 con gia cầm. Những con gia cầm được cho ăn và uống nước, khối lượng cơ thể và lượng thức ăn ăn vào được ghi lại vào 0, 7, 14 và 21 ngày sau khi nở để đánh giá lượng thức ăn ăn vào, tăng trọng cơ thể và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Dữ liệu được phân tích bởi ANOVA một yếu tố. Các trung bình khác nhau có ý nghĩa thống kê (p <0,05) bằng Tukey. Các hồi quy tuyến tính, đa thức bậc hai và bậc hai đường gãy khúc được sử dụng để khảo sát phản ứng liều lượng của GOS trong khẩu phần ăn.

Kết quả

Từ ngày 0 đến ngày 21, sự gia tăng tuyến tính (p <0,01) trong lượng thức ăn ăn vào được quan sát với sự gia tăng GOS trong khẩu phần ăn, trong khi tăng trọng cơ thể cho thấy sự hồi quy đường đứt gãy bậc hai có ý nghĩa về mặt thống kê (p <0,0001), đạt đến mức tăng trọng cơ thể tối đa (1,248 kg) ở 1,25% GOS trong khẩu phần và không đổi so với mức này (Hình 1).

Hình 1 – Ảnh hưởng của các mức GOS đậu nành trong khẩu phần ăn của gà non đến tăng trọng cơ thể (0-21 ngày). Đáp ứng tối đa (ổn định), 1,248 kg. Điểm giới hạn: 1,254%. P < 0,0001

Giá trị PỔn định (đáp ứng tối đa)GOS% ổn định
<0,00011,248kg1,254%

Cũng như lượng thức ăn ăn vào, mức GOS trong khẩu phần có ảnh hưởng tuyến tính đáng kể (p <0,01) đến tỷ lệ chuyển hóa thức ăn – hàm lượng GOS trong khẩu phần càng cao thì tỷ lệ chuyển hóa thức ăn càng cao vào ngày 21 (Hình 2). Các nhóm thí nghiệm nhận được 0,9 và 1,8% GOS trong khẩu phần là những nhóm có giá trị tỷ lệ chuyển đổi thức ăn trung bình thấp nhất (1,148).

Hình 2 – Ảnh hưởng của mức độ GOS đậu nành trong khẩu phần của gà non đến FCR (0-21 ngày). So sánh trung bình (p = 0,001). Ảnh hưởng tuyến tính (p = 0,009)

Dựa trên kết quả tăng trưởng, có thể giải thích rằng gà có thể sử dụng, thông qua quá trình lên men ở manh tràng và ruột già, galacto-oligosaccharides ở một mức độ nhất định (lên đến 1,25% trong khẩu phần), tạo ra axit béo chuỗi ngắn và năng lượng được sử dụng để tăng trưởng. Theo nghĩa này, mức độ thấp của galacto-oligosaccharides có thể đóng một vai trò như prebiotics. Tuy nhiên, từ 1,25% GOS trong khẩu phần, gà không thể lên men với lượng cao hơn, do đó, tốc độ tăng trưởng không còn được cải thiện. Ở mức 1,8% GOS trong thức ăn, tăng trọng cơ thể giữ nguyên ở mức 1,25%, và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn vẫn ổn định.

Dựa trên kết quả năng suất của nghiên cứu này, ngưỡng lý tưởng của GOS trong khẩu phần ăn dành cho gà thịt trong giai đoạn bắt đầu sẽ là khoảng 1,25-1,8%. Nếu vượt quá ngưỡng này, năng suất của gà sẽ bị ảnh hưởng.

Nguồn: https://www.poultryworld.net/health-nutrition/nutrition/study-confirms-effect-of-soy-stachyose-and-raffinose-on-broiler-performance/

EnglishVietnamese